Giáo dục ngày càng quan trọng trong thời đại AI. Liệu Việt Nam có đang chậm chân?

Đọc 4 cuốn sách về Giáo Dục này để có cập nhật tiến bộ giáo dục và giúp con phát triển năng lực mạnh mẽ khi mà AI đang dần chi phối xã hội 🤔

Các gia đình trí thức và trung lưu trở lên thì cha mẹ ‘có cơ hội’ dành cho con nhiều thời gian hơn.
Phát triển óc tò mò và niềm đam mê tự nhiên.

Khi Van Gogh làm thầy giáo dạy về sáng tạo (xài AI generator).

Nhìn lại những cá nhân xuất chúng như Einstein, Richard Feynman, Stephen Hawking hay Larry Page, Sergey Brin, Mark Zuckerberg, Bill Gates, Alexandr Wang…đặt điểm chung là nền tảng giáo dục chất lượng (cha mẹ thường là người tương đối học thức trong xã hội và điều kiện kinh tế gia đình cũng cao), nên con cái họ được tạo điều kiện tối đa để phát triển:

“Trí tò mò không giới hạn” (Unlimited Curiosity)

1) Montessori Toddler – Em Bé Tập Đi Montessori – Simone Davies

Montessori là phương pháp giáo dục trẻ nhỏ quá nổi tiếng rồi.
Nói chung nhấn mạnh tính tự lập, tự do, không bị ép buộc gò bó.

Cuốn sách chứa 5 “nguyên tắc” dễ nhớ vô cùng hiệu quả:

– Giữ bình tĩnh khi lũ trẻ trở nên cáu kỉnh, đặt ra giới hạn bằng tình yêu thương và thái độ tôn trọng bé
– Bài trí tổ ấm và loại bỏ các đồ đạc lỉnh kỉnh
– Tạo ra những hoạt động Montessori phù hợp với lứa tuổi từ 1-3
– Nuôi nấng một em bé ham học hỏi, mê thích khám phá thế giới xung quanh
– Quan sát thế giới qua đôi mắt của trẻ mới biết đi.

Tổ chức AMI (Hiệp Hội Montessori Quốc tế) và AMS (Hiệp Hội Montessori Mỹ) đã nêu ra đặc trưng của phương pháp học Montessori như sau:

  • Lớp học ghép các lứa tuổi lại với nhau. Thông thường là các trẻ từ 2½ hay 3 tuổi đến 6 tuổi.
  • Trẻ tự lựa chọn hoạt động (với điều kiện là các hoạt động này đã được giáo viên lên kế hoạch sắp xếp trước)
  • Trẻ không bị ngắt quãng hay làm phiền trong quá trình ‘làm việc’
  • Học sinh học hỏi khái niệm, kiến thức thông qua trải nghiệm thực tế với các học cụ, mô hình mang tính chất khám phá, xây dựng, hơn là học theo chỉ dẫn trực tiếp từ phía giáo viên.
  • Các học cụ giáo dục đặc biệt được Bà Montessori và đồng sự nghiên cứu, sáng tạo và phát triển nên.

Simone Davies là một giáo viên Montessori AMI, trang blog và Instagram của cô rất được mến mộ nhờ đưa ra những “mách nước”, lời giải đáp cùng những buổi workshop trực tiếp lí thú dành cho các bậc phụ huynh trên toàn thế giới. Cô và gia đình hiện sống tại Amsterdam, nơi cô đang điều hành các lớp học Montessori tại trường Montessori Lan Dạ Hương.

2) Những đứa trẻ thông minh nhất thế giới – Amanda Ripley

Amanda Ripley, một phóng viên từng đoạt nhiều giải thưởng lớn theo chân ba em học sinh Eric, Kim và Tom từ Mỹ sang du học tại ba nước: Hàn Quốc, Phần Lan và Ba Lan.

Với tác giả, bà chọn ba mẫu như vậy vì ba quốc gia này đại diện cho ba mô hình giáo dục tiêu biểu của các quốc gia có kết quả PISA (chương trình đánh giá học sinh liên quốc gia – Programme for International Student Assessment – để xem xét “sự thông minh” của học sinh) cao hơn Hoa Kỳ.

Ngoài nhận xét của Eric, Kim và Tom về cách học của bạn bè bản xứ, tác giả cũng phỏng vấn những nhân vật giữ vai trò chủ chốt trong ngành giáo dục tại địa phương.

Các quốc gia thành công nhất hoặc tiến bộ nhất dường như phù hợp với ba kiểu mẫu cơ bản:

1) Mô hình không tưởng của Phần Lan, một hệ thống được xây dựng trên cơ sở niềm tin, trong đó trẻ em đạt được tư duy bậc cao mà không có sự cạnh tranh quá mức hoặc sự can thiệp của cha mẹ;

2) Mô hình nồi áp suất của Hàn Quốc, nơi bọn trẻ bị ép học đến mức chính phủ phải đưa ra một lệnh giới nghiêm về học tập;

3) Mô hình lột xác của Ba Lan, một quốc gia đang đà đi lên, với tỷ lệ trẻ em nghèo tương đương Mỹ, nhưng lại đạt được mức tăng trưởng ấn tượng gần đây về những gì trẻ em biết.

3) Escalante: người thầy xuất sắc nhất nước Mỹ – Jay Mathews

Câu chuyện về cuộc đời người thầy giáo gốc Bolivia Jaime Escalante (1930-2010) đã truyền cảm hứng cho nhà văn Jay Mathews viết nên tác phẩm Escalante: Người thầy xuất sắc nhất nước Mỹ.

Truyện kể về Jaime Escalante – giáo viên dạy Toán tại một trường địa phương ở Bolivia. Năm 34 tuổi, ông đến Los Angeles (Mỹ) nhưng không xin được việc bởi không biết tiếng Anh. Thời điểm đó, Mỹ không công nhận chứng chỉ giáo viên của Bolivia.

Escalante phải vừa học tiếng Anh, vừa làm nhiều công việc lao động phổ thông như đầu bếp. Sau 10 năm cố gắng để có được chứng chỉ giáo viên, Escalante đã nộp đơn phỏng vấn tại nhiều trường ở Mỹ và đều bị từ chối.

Ở tuổi 44, ông mới được nhận vào làm giáo viên dạy Toán tại trường Trung học Garfield High, một trong những trường thiếu thốn nhất ở Los Angeles và có nguy cơ bị thu hồi giấy phép bởi học sinh ở đây rất ngỗ ngược, quậy phá, ăn nói cực kì vô lễ và không chịu học. Trước đó, nhiều giáo viên ở đây đã xin chuyển đi vì bất lực trước đám học trò này.

Tuy nhiên, càng tiếp xúc, ông càng nhận thấy các học trò của mình không xấu như ông tưởng, thậm chí chúng còn có nhiều tiềm năng. Chúng sinh ra trong gia cảnh nghèo đói, cha mẹ là dân nhập cư, mải lo cơm áo gạo tiền nên không được quan tâm nhiều, cộng thêm sự nản lòng, bất lực và thiếu tin tưởng từ phía một số giáo viên trong trường.

Escalante nhận ra mình cần phải tìm những phương pháp giáo dục khác biệt, bám sát vào sở thích của học trò nhằm khơi dậy năng lực, sự tự tin, khát vọng và truyền ngọn lửa ham học cho học sinh. Những bài giảng Toán học được thầy truyền tải theo cách hài hước, thú vị mà vẫn hiệu quả, đánh vào lòng hiếu kì của các em.

Escalante cũng là người tâm huyết với câu nói: “Nếu không nỗ lực sẽ không có thiên tài”. Theo ông, học sinh khi đến lớp chỉ cần mang theo một thứ duy nhất, đó là khát vọng thành công, và nhiệm vụ của người thầy là khơi dậy khát vọng đó bằng tình yêu thương tràn đầy và phương pháp giáo dục của mình.

Ông từng nói với học sinh: “Nếu em không thể nhìn thấy hy vọng, hãy để tôi trao nó cho em, bởi vì tôi là một giáo viên”. Có thể thấy thành tựu mà thầy Escalante có được là nhờ vào sự thay đổi tư duy trong phương pháp giáo dục nhằm tạo ra hứng thú, sự tin tưởng và nuôi dưỡng khát vọng của học sinh.

Kết quả năm đó, 18 học sinh trong lớp đã vượt qua một kì thi nâng cao (AP) để xét vào những trường đại học danh giá nhất nước Mỹ. Đó là những năm thập niên 1980, cả nước Mỹ chỉ có hai trường theo học chương trình AP và rất ít học sinh vượt qua kì thi đầy cam go này.

Việc 18 em học sinh của thầy Escalante vượt qua kì thi đã khiến Cục khảo thí Bộ Giáo dục bất ngờ đến mức buộc tội cho 12 em trong số đó là quay cóp. Nhưng sau khi tổ chức thi lại, 12 em này đều vượt qua kì thi một cách xuất sắc. Câu chuyện này đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt về giáo dục trên khắp nước Mỹ.

Đó là thời điểm 1988.

Hơn 30 năm đứng trên bục giảng, Escalante giữ vững phương pháp giáo dục này và bằng lòng yêu thương tràn đầy, ông đã đào tạo hơn 400 học sinh ưu tú đỗ vào những trường đại học nổi tiếng thế giới như Harvard, MIT, Stanford,…

Năm 2010 khi Escalante qua đời, Tổng thống Barack Obama đã gửi thông điệp chia buồn: “Escalante đã chứng minh cho mọi người thấy lí lịch của một người không quyết định việc người đó có thể đi bao xa. Ông chính là nhân tố thúc đẩy niềm đam mê và quyết tâm của học sinh, để họ nhận ra tiềm năng của chính mình”.

Câu chuyện về người thầy huyền thoại này đã được Hollywood dựng thành kịch bản cho bộ phim Stand and Deliver (Đừng bao giờ nghĩ học trò mình ngu dốt). Bộ phim đã gây tiếng vang khắp thế giới, trở thành niềm cảm hứng cho nhiều giáo viên cũng như học sinh.

4) Dạy học không theo lối mòn – Barbara Oakley, Beth Rogowsky, Terrence J.Sejnowski

3 tác giả là các chuyên gia hàng đầu về giáo dục và là đồng tác giả của sách Learning how to learn (Học cách học) danh tiếngkhoá học cùng tên Miễn phí trên Coursera (2024, đã có hơn 4 triệu học sinh tham gia khóa này). Cuốn này dành cho học sinh.

Còn trong Uncommon sense teaching (Dạy học không theo lối mòn) hướng đến các nhà cải cách giáo dục, giáo viên và cả phụ huynh. Tác giả vận dụng những tiến bộ mới nhất trong khoa học thần kinh để giúp học sinh học tập một cách khoa học và tối ưu hiệu quả tiếp thu, học tập.

• Giúp học sinh có động lực và tham gia tích cực vào bài học đặc biệt là với việc học trực tuyến

• Giúp học sinh ghi nhớ thông tin lâu dài, để không lập tức quên đi sau khi kiểm tra

• Cung cấp cách giảng dạy hòa nhập trong các lớp học đa dạng với học sinh ở nhiều trình độ khác nhau.

Barbara Oakley là một giáo sư kỹ thuật tại Đại học Oakland và Đại học McMaster, người sở hữu các khóa học trực tuyến về học tập MOOC (online) phổ biến nhất trên thế giới. Bà tham gia vào nhiều lĩnh vực nghiên cứu, từ giáo dục STEM đến thực hành học tập.Oakley đồng sáng tạo và giảng dạy khóa học trực tuyến mở Học cách học. Bà là tác giả của các cuốn sách Học cách học và A Mind for Numbers.Oakley cũng có nhiều bài báo op-ed về việc học trên The Wall Street Journal và The New York Times.

Beth Rogowsky có bằng tiến sĩ về Lãnh đạo Giáo dục (Đại học Wilkes, 2010); bằng Thạc sĩ về Giảng dạy (Marygrove College, 2004); Thạc sĩ về Công nghệ Giảng dạy (Đại học Bloomsburg, 2000); và Cử nhân Khoa học Giáo dục (Đại học Bloomsburg, 1996). Beth đã hoàn thành ba năm đào tạo sau tiến sĩ tại Trung tâm Khoa học Thần kinh Phân tử và Hành vi tại Đại học Rutgers. Rogowsky có hiểu biết sâu sắc về hai thế giới rất khác nhau – giáo dục thông thường ở bậc phổ thông và đại học cũng như nghiên cứu chuyên sâu về khoa học thần kinh. Bà đã có nhiều bài đăng trên Journal of Educational Psychology, Frontiers in Psychology, và International Journal of Play. Time Magazine và Washington Post cũng đã đăng bài về công trình của bà.

Terrence Sejnowski (my idol – ông là 1 polymath đích thực) ✌️ nhận bằng Tiến sĩ vật lý tại Đại học Princeton và là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ về sinh học thần kinh tại Trường Y Harvard trước khi gia nhập giảng viên tại Johns Hopkins, nơi ông là Giáo sư Vật lý sinh học. Ông chuyển đến La Jolla và hiện giữ chức Chủ tịch Francis Crick tại Viện Nghiên cứu Sinh học The Salk và cũng là Giáo sư Xuất sắc và giám đốc của Viện Tính toán Thần kinh tại Đại học California, San Diego. Ông cũng là Chủ tịch của Tổ chức Hệ thống Xử lý Thông tin Thần kinh (NeurIPS), tổ chức hội nghị thường niên là nơi ươm mầm cho việc học sâu và có sự tham dự của 26.000 nhà nghiên cứu vào năm 2020. Ông là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ, Học viện Kỹ thuật Quốc gia Mỹ, Học viện Y khoa Quốc gia Mỹ và Học viện Phát minh Quốc gia Mỹ, một trong ba nhà khoa học duy nhất còn sống được bầu vào cả bốn viện hàn lâm quốc gia.

Sejnowski đã đi tiên phong trong việc học các thuật toán cho mạng lưới thần kinh vào những năm 1980. Ông cũng là nhà tiên phong trong khoa học thần kinh tính toán.

Ông là nhà tiên phong về mạng thần kinh và khoa học thần kinh điện đoán, là học trò của John Hopfield (nhà nghiên cứu AI đạt Nobel vật lý 2024 về Hopfield network).

Ông là đồng tác giả với bác Geoffrey Hinton (cha đẻ Deep learning, giải Turing 2018 và cũng Nobel vật lý 2024) về Boltzmann machines.

Ông đạt Gruber in neuroscience 2022 và The Brain prize 2024, 2 giải thưởng lớn về lĩnh vực khoa học thần kinh.

Hy vọng các vị thầy cô giáo Việt Nam có cơ hội tiếp cận hoặc các bậc cha mẹ trẻ (tương lai) sẽ đọc và DÁM thay đổi để giúp con mình hội nhập thế giới trong thời đại AI này.

Oh hi there 👋
It’s nice to meet you.

Sign up to receive awesome content in your inbox, every month.

Tôi sẽ không gửi email nếu bạn không đồng ý. Cảm ơn!

Quánh giá:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *